Những nét đặc sắc trong lịch sử Việt Nam

Lịch sử Việt Nam được ghi dấu bởi các cuộc xung đột đã tôi rèn nên bản sắc dân tộc mình. Hôm nay, nước Việt Nam đang sống trong hoà bình và hướng về sự phát triển, lòng yêu nước hôm nay đã thay bằng  sự sẵn sàng hợp tác và trao đổi dưới nhiều hình thức, nhất là với nước Pháp do thuận lợi từ việc có chung một giai đoạn lịch sử dài và sự trìu mến đặc biệt.

Triều đại Văn Lang (hơn 200 năm trước CN-111 trước CN) : Huyền thoại về vua Hùng cai trị nước Văn Lang, trở thành Âu Lạc dưới thời Thục và Nam Việt dưới thời Triệu đã hình thành nên một nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng với Trống đồng với kỹ thuật khá là tiến bộ. Năm 111 trước CN, Nam Việt bị triều Hán – Trung Quốc xâm lược.

Chế độ phong kiến Trung Quốc và sự nổi dậy của dân tộc Việt (111 trước CN-938 sau CN) : Triều Hán và những triều đại Trung Quốc tiếp theo đã áp đặt người Việt phải theo trang phục cũng như phong tục của người Trung Quốc, và họ đạt được sự thắng lợi bất công, với một vài sự tôn kính hư ảo. Phải chịu đựng sự thống trị đô hộ, những cuộc nổi dậy lần lượt bị đàn áp trong suốt 1000 năm, năm 938 sau CN, Ngô Quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến giành thắng lợi, thiết lập một nhà nước độc lập.

Việt Nam qua các triều đại (938-1858 sau CN):
– Tính đồng nhất trong nước được củng cố, chiến thắng trước Trung Quốc và những mâu thuẫn nội bộ.
– Ngô Quyền thiết lập nên nhà nước độc lập (triều Ngô), Cuối triều Ngô được ghi dấu bởi sự phân chia đất nước do sự độc chiếm phong kiến, Đinh Bộ Lĩnh đã áp dụng luật do chính ông sọan thảo cho 12 công hầu và lập lên nước Đại Cồ Việt vào năm 968. Và tiếp theo sau ông là các triều đại Lý, Trầ, Hồ, Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.
– Dưới triều Lý (1012-1225)  và Trần (1226-1400), các thắng lợi trước Trung Quốc (Tống, Nguyên) và với sự vụt lên của Phật giáo càng củng cố hơn sự đoàn kết dân tộc.
– Nhà Lê được thiết lập sau chiến thắng chông giặc Minh (Trung Quốc) năm 1824-1773, cuối triều Lê đất nước bị chia cắt do sự phân tranh của hai chúa: Trịnh ở phía Bắc và Nguyễn ở phía Nam cùng với sự nổi dậy của nông dân.
– Nhà Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ đã thống nhất được đất nước (1773-1802) và chống lại quân Thanh , sau đó hoàng đế Gia Long đã lật đổ Tây Sơn và thiết lập lên nhà Nguyễn (1802-1945).

Sự chiếm đóng của các nước phương Tây và công cuộc giải phóng dân tộc (1858-1975):
– Công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp và chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam, những mốc quan trọng :
1858: quân Pháp tiến công vào cảng Đà Nẳng (cảng miền Trung)
1867: Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp.
1883: An Nam (miền Trung) và Bắc Kỳ (phía Bắc) trở thành xứ bảo hộ của Pháp.
1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh độc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 2/9/1945.
1946: Âm mưu của thực dân Pháp , muốn thiết lập lại sự cai trị và bắt đầu cuộc chiến tranh thứ nhất ở Việt Nam.
1954: 7/5/1954, chiến thắng Điện Biên Phủ, 16000 tên địch bị bắt giữ.
20/7/1954, hiệp định Genève được ký kết, công nhận nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Vĩ tuyến thứ 17 được chọn làm giới tuyến quân sự và cuộc tổng tuyển cử đã được diễn ra trong cả nước.
– Sự can thiệp của Mỹ và cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam :
1956: Ngô Đình Diệm, dưới sự ủng hộ của chính quyền Mỹ, đã khước từ mọi cuộc bầu cử được dự kiến bởi những hiệp định. Các nhà cố vẫn quân sự Mỹ đầu tiên đã đổ bộ vào miền Nam ViệtNam, mở ra cuộc chiến tranh lần hai.
1968: sự can thiệp của Mỹ đạt đến con số 500 000 lính, 1 triệu tấn thuốc nổ được thả xuống, gấp 3 lần so với con số đã dùng trên khắp Châu Âu trong suốt chiến tranh thế giới lần hai. Cuộc phản công vào Tết Mậu Thân, hội nghị Paris mở ra.
1972: ký hiệp định Pari, quân đội Mỹ bắt đầu rút lui.
1975: Cuộc phản công mùa xuân, kết thúc của chế độ Sài Gòn ngày 30/4/1945.
1976: Nước Việt Nam chính thức thống nhất và lấy tên là nước Cộng hòa Xã hội Việt Nam. Sài Gòn trở thành Thành phố Hồ Chí Minh (do Hội nghị thứ I năm 1945 chọn)