Địa hình 
Thủ đô của Việt Nam là Hà Nội. Việt Nam có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung Ương, có cấp độ quản lý tương đương với các tỉnh. Địa hình nước Việt Nam khá tương phản, vùng núi và cao nguyên chiếm 2/3 diện tích đất. Từ vùng Thanh Hóa đến biên giới Trung Quốc, đến đèo Lao Bảo (Đà Nẵng) biên giới phía Tây được lập bởi dãy Trường Sơn Bắc – bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Dãy Trường Sơn Nam trải dài từ đèo Hải Vân thuộc khu vực phía Nam của Đà Nẵng đến Đà Lạt. Việt Nam được chia thành 3 miền lớn: Bắc Bộ hoặc Miền Bắc (Bắc Kỳ cũ), Trung Bộ hoặc Miền Trung (An Nam cũ) và Nam Bộ hoặc Miền Nam (Nam Kỳ cũ).

Khí hậu
Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, gió mùa, độ ẩm có thể lên tới 84%. Khu vực phía Nam có 2 mùa: mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10). Ở khu vực phía Bắc, các mùa thể hiện rõ rệt hơn (4 mùa) so với miền Nam, nơi mà nhiệt độ hầu như chỉ thay đổi giữa 21°C và 28°C. Do sự khác biệt về vĩ độ và địa hình, khí hậu Việt Nam rất khác nhau tùy theo vùng miền. Nhìn chung nhiệt độ trung bình ở khu vực đồng bằng cao hơn khu vực miền núi và cao nguyên. Nhiệt độ thay đổi từ 5°C vào tháng 12 và tháng 1 đến hơn 37°C vào tháng 4.

Kinh tế
Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam là thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO – World Trade Organization).
Đơn vị tiền tệ của Việt Nam là “đồng” (1€ ≈ 28.500 đồng, năm 2011) và tờ giấy bạc mệnh giá nhỏ nhất là 200 đồng, lớn nhất là 500.000 đồng. Việt Nam cũng có phát hành những đồng xu mệnh giá từ 200 đến 5.000 đồng. Có rất nhiều máy rút tiền tự động ở Việt Nam và không chỉ có ở những thành phố. Vào năm 2010, lạm phát ở Việt Nam là 13,89% và 18,2% vào năm 2011. Vào năm 2011, GDP (Tổng sản phẩm quốc nội – PIB) vào khoảng 299,2 tỷ $, tương đương 3.300 $ bình quân đầu người. Giá lương thực thực phẩm tăng cao hơn nhiều, khoảng 30 %. Tuy nhiên, năm 2011,  lương trung bình chỉ khoảng 150 $ và lương tối thiểu là 75 $. Năm 2010, tỷ trọng GDP cho các ngành như sau: Nông nghiệp = 20%, Công nghiệp = 41,4%, Dịch vụ = 38,6%. GDP gia tăng khoảng 5,8%. Tỷ lệ dân cư có mức sống dưới ngưỡng nghèo là 18,9% (năm 2011). Năm 2010, khu vực nông thôn có số tiền cố định ở mức 400.000 đồng/tháng, khu vực thành thị là 500.000 đồng/tháng.

Việt Nam khai thác những loại khoáng sản sau đây: phốtphát, than đá, mangan, bôxít, crom, dầu hỏa (khoảng 7 triệu tấn).  Than (6 triệu tấn) và khí đốt được tìm thấy và sản xuất ra năng lượng thủy điện.Việt Nam có những ngành công nghiệp như: công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến lương thực, quần áo, giầy dép.
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu lớn về gạo, tiêu, đào lộn hột và cà phê. Sản phẩm nông nghiệp và miền biển gồm có: gạo, cà phê, cao su, bông, trà, tiêu, lạc, đào lộn hột, mía, chuối, cá và hải sản.

Khai thác đất
Đất trồng trọt: 17%
Đất canh tác: 4%
Đất chăn nuôi: 1%
Đất rừng: 30%
Khác: 48% (ước tính năm 1991)
Đất tưới tiêu: 18.600 km2 (ước tính)

Chính trị
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một quốc gia có nền dân chủ đại chúng. Hiến pháp năm 1980 quy định hệ thống một đảng duy nhất, đứng đầu là chủ tịch nước Trương Tấn Sang, phó chủ tịch là bà Nguyễn Thị Doan (25/07/2011). Quốc hội: Cơ quan được bầu cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu mỗi 5 năm (kỳ bầu cử gần đây nhất là ngày 22/05/2011 với 500 đại biểu trên tổng số 827 ứng viên được bầu).

Giáo dục
Tất cả các trường ở Việt Nam đều được quốc hữu hóa theo sự thống nhất vào năm 1976. Ước tính vào năm 1992, 47% số trẻ em độ tuổi từ 12 đến 17 đều được đi học. Giáo dục miễn phí và bắt buộc đã làm tỷ lệ mù chữ nhiều năm qua giảm đáng kể từ 16,6% xuống còn 9,7% vào năm 2008.